ĐỘC QUYỀN CHO PHÉP SỬ
DỤNG
QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN
LIÊN QUAN
Đỗ Khắc Chiến
Hiện đang có nhiều ý
kiến xung quanh các quy định đề cập đến quyền tác giả và quyền liên quan trong Dự
thảo “Nghị định Quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người
đẹp và người mẫu; phát hành, lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa
nhạc, sân khấu” (sau đây gọi tắt là Dự thảo).
Những ý kiến đăng tải trên phương tiện đại chúng gần đây về
Dự thảo chủ yếu đề cập đến thủ tục cấp giấy phép tổ chức biểu diễn nghệ thuật, cụ
thể là biểu diễn âm nhạc.
Thực ra thì Dự thảo đặt ra vấn đề rộng và phức tạp
hơn nhiều đối với lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. Trên thực tế, hoạt
động thuộc phạm vi điều chỉnh của Dự thảo hầu như luôn luôn gắn liền với viêc sử dụng hoặc làm phát sinh quyền
tác giả, quyền liên quan. Nhiều loại
đối tượng được bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả và quyền liên
quan (không chỉ tác phẩm âm nhạc, sân khấu mà cả tác phẩm văn học, mỹ thuật, múa,
điện ảnh, nhiếp ảnh, nghe nhìn; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình, cuộc
phát sóng) có thể được sử dụng. Nhiều hình
thức sử dụng khác nhau (không chỉ biểu diễn trước công chúng mà cả sao
chép, phát sóng, truyền đạt, Internet) có thể được khai thác. Nhiều đối tượng có
thể được tạo ra (ví dụ bài
nói, bài phát biểu, tác phẩm nhiếp ảnh, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi
hình, cuộc phát sóng).
Tuy nhiên, để đơn giản việc tìm hiểu các nguyên
tắc chung, phần sau đây chỉ đề cập đến độc quyền cho phép sử dụng
quyền
tác giả (sử dụng tác phẩm dưới hình thức nhất định), với lưu ý rằng đối
với độc quyền cho phép sử dụng quyền liên quan thì cách thức và kết
quả tìm hiểu cũng tương tự như vậy.
Quy định của Dự thảo
Từ các quy định có liên quan đến quyền tác giả của Dự thảo,
có thể rút ra một số điểm đáng chú ý sau đây.
(1)
Người
sử dụng tác phẩm không phải thỏa thuận hợp đồng sử dụng (theo Điều 48
Luật Sở hữu trí tuệ) với chủ sở hữu quyền tác giả để được chủ sở hữu quyền tác
giả cho
phép sử dụng tác phẩm, trước khi sử dụng.
(2)
Người
sử dụng tác phẩm phải gửi “cam kết thực hiện quyền tác giả” kèm
theo đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động theo Điều 7 (biểu diễn nghệ thuât,
trình diễn thời trang ) và Điều 20 (phát hành bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc,
sân khấu).
(3)
Trong trường hợp “tổ chức thi người đẹp,
người mẫu”, người sử
dụng tác phẩm không phải gửi “cam kết thực hiện quyền tác giả, quyền liên
quan” kèm theo đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động (Điều
17, 18).
(4) Trong các trường hợp Dự thảo quy định không phải đề
nghị cấp giấy phép hoạt động thì người sử dụng tác phẩm đương nhiên không phải “cam
kết thực hiện quyền tác giả” theo bất kỳ hình thức, thủ tục nào.
(5) “Cam kết” trong trường
hợp này là một lời hứa đơn phương về trách nhiệm trong tương lai mà nội
dung và hình thức không được quy định rõ ràng.
Tóm lại, theo quy định của Dự thảo thì chủ sở hữu quyền tác
giả không có bất kỳ một khả năng hoặc cơ hội nào để kiểm soát,
thậm chí để tham gia kiểm soát việc người khác sử dụng quyền tác giả mà mình là
chủ sở hữu.
Vấn đề cần giải quyết
Về quy định của Dự thảo, đang có ý kiến khác nhau, thậm chí
trái
ngược nhau. Một số cho rằng quy định của Dự thảo là phù hợp. Một số
khác cho rằng cần phải quy định rõ ràng việc người sử dụng tác phẩm phải thỏa
thuận hợp đồng sử dụng quyền tác giả với chủ sở hữu
quyền tác giả trước khi sử dụng. Một số khác nữa cho rằng Dự thảo không cần quy
định về quyền tác giả. Tuy nhiên, có thể thấy về thực chất phương án thứ ba và
thứ nhất là một, vì quan hệ giữa người sử dụng tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác
giả hoàn toàn giống nhau (không phải là quan hệ xin phép-cho phép).
Như vậy, vấn đề thực chất mà Dự thảo đặt ra và cần được xem
xét là chọn phương án nào trong phương án quy định theo Dự thảo và quy định rõ
về hợp đồng sử dụng.
Căn cứ để lựa chọn
Căn cứ để quyết định lựa chọn là Điều 3 (Nguyên tắc xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật) của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, phải loại bỏ phương án không
phù hợp với các nguyên tắc “1. Bảo đảm tính thống nhất của văn bản quy
phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật” và “5. Không làm cản trở việc thực
hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên”.
Trong trường hợp đang
xem xét, “văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật” là văn bản quy
phạm pháp luật về quyền tác giả, trong đó Luật Sở hữu trí tuệ là đại diện quan
trọng nhất; “điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên” bao gồm Công ước Berne và Hiệp định TRIPS (thuộc WTO).
Quy định của Dự thảo không
thống nhất với quy định của Luật Sở hữu trí tuệ
Luật Sở hữu trí tuệ xác lập một hệ thống quy định đủ hoàn
chỉnh, rõ ràng về quyền tác giả, nhằm mục đích bảo hộ, khai thác sử dụng, quản
lý nhà nước, thực thi quyền tác giả. Đó là quy định chung (Phần thứ nhất); quy
định về điều kiện và đối tượng bảo hộ (Điều 13, 14, 15); nội
dung, giới hạn, thời hạn bảo hộ (Điều 18-27); hành vi xâm
phạm quyền tác giả (Điều 28); chủ sở hữu quyền tác giả (Điều
36-42); chuyển nhượng quyền tác giả (Điều 45, 46); chuyển quyền sử dụng
quyền tác giả (Điều 47, 48); đăng ký quyền tác giả (Điều 50-55);
tổ chức đại diện tập thể, tư vấn, dịch vụ quyền tác giả (Điều 56); bảo
vệ (hoặc thực thi) quyền tác giả (Phần thứ năm).
Từ các quy định nêu trên, đối với độc quyền cho phép sử
dụng quyền tác giả, có thể rút ra các nguyên tắc cơ bản sau đây:
(1) Chủ sở hữu quyền tác giả có độc quyền cho phép người
khác sử dụng quyền tác giả, hoặc, diễn đạt theo cách khác, người sử dụng quyền
tác giả phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả (Điều 20).
(2) Hành vi sử dụng quyền tác giả mà không được chủ sở hữu
quyền tác giả cho phép là hành vi xâm phạm quyền tác giả, trừ các
trường hợp quy định cụ thể tại Luật Sở hữu trí tuệ hoặc văn bản pháp luật khác (Điều
28)
(3) Việc cho phép hoặc xin phép sử dụng quyền tác giả phải
được thực hiện theo phương thức chuyển quyền sử dụng (Điều 47)
(4) Việc chuyển quyền sử dụng phải được thực hiện dưới hình
thức hợp
đồng văn bản (Điều 48)
(5) Độc quyền cho phép sử dụng quyền tác giả bị giới
hạn toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp cụ thể sau đây:
- Điều
7, về giới hạn quyền: độc quyền cho phép bị giới hạn theo quyết định
của Nhà nước
- Điều
25 và 26, về ngoại lệ đối với quyền: độc quyền cho phép bị giới hạn toàn bộ
hoặc chỉ còn quyền nhận tiền thù lao
(6) Việc thực hiện độc quyền cho phép sử dụng quyền tác giả
có thể thông qua tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả bằng ủy quyền (Điều 56)
(7) Chính phủ có thẩm quyền cho phép sử
dụng quyền tác giả trong một số trường hợp cụ thể sau đây:
- Nhằm
mục tiêu đặc biệt, theo quy định tại khoản 3 Điều 7
- Chủ
sở hữu quyền tác giả là Nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 42
- Tác
phẩm thuộc về công chúng, theo quy định tại khoản 3 Điều 43
Như vậy, trừ trường hợp độc quyền cho phép bị giới hạn và
thẩm quyền cho phép thuộc Chính phủ, độc quyền cho phép sử dụng quyền tác giả hoàn
toàn thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả.
Độc quyền cho phép sử dụng quyền tác giả cần được hiểu là
bao gồm quyền đặt các điều kiện đối với việc sử dụng, bao
gồm việc bảo đảm quyền nhân thân của tác giả; phạm vi lãnh thổ, thời gian sử dụng,
khoản tiền thù lao phải trả cho chủ sở hữu quyền tác giả và điều kiện
khác. Nội dung các điều kiện sử dụng do các bên liên quan thỏa thuận và quy định
trong hợp đồng sử dụng quyền tác giả.
Quy định của Dự thảo
không thống nhất với quy định của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
Kết quả nghiên cứu, phân tích quy định của hàng loạt văn
bản quy phạm pháp luật có quy định về quyền tác giả cho thấy các nguyên tắc cơ
bản về độc quyền cho phép sử dụng quyền tác giả được thể hiện và hướng dẫn thực
hiện thống nhất trong tất cả văn bản được tra cứu, bao gồm nhiều Nghị
định của Chính phủ và Thông tư của Bộ Văn hóa-Thông tin
Đặc biệt, Thông tư của Bộ Văn hóa-Thông tin số
27/2001/TT-BVHTT ngày 10 tháng 5 năm 2001 hướng dẫn thực hiện Nghị định số
76/CP ngỳ 29/11/1996, Nghị định số 60/CP ngày 6/6/1997 của Chính phủ hướng dẫn
thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự” bên cạnh việc
hướng dẫn chi tiết việc thực hiện quy định về độc quyền cho phép sử dụng quyền
tác giả (Điểm III.2, Điểm IV.3 ) cũng quy định ba loại mẫu hợp đồng về sử dụng
tác phẩm, bao gồm:
(1) Phụ lục số 3- Mẫu hợp đồng
sử dụng tác phẩm (Trong lĩnh
vực biểu diễn)
(2) Phụ lục số 4 - Mẫu hợp đồng sử dụng tác phẩm (Trong lĩnh
vực xuất bản)
(3) Phụ lục số 5 - Mẫu hợp đồng
sử dụng tác phẩm (Trong lĩnh vực sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng
hình, đĩa hình, phim và chương trình phát thanh, truyền hình).
Trong phạm vi tra cứu., chưa phát hiện bất kỳ một văn bản quy
phạm pháp luật nào có quy định khác với các nguyên tắc cơ
bản đã nêu ở trên.
Như vậy, quy định của Dự thảo không phù hợp với nguyên tắc “Bảo đảm tính thống nhất
của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật” tại Điều 3 Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật.
Có lẽ văn bản duy nhất được
dẫn chiếu làm cơ sở cho quy định của Dự thảo là Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn
hóa-Thông tin số 47/2004/QĐ-BVHTT ngày 02 tháng 7 năm 2004 về việc ban hành
“quy chế hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp”.
Về Quy chế này cần lưu ý như sau. Trong thủ
tục và thời gian cấp giấy phép công diễn (Điều 22) không có yêu cầu về hợp đồng sử dụng quyền
tác giả, tuy tại điểm 2.5. Điều 12 có quy định nghĩa vụ thực
hiện “các quy định của pháp luật về quyền tác giả”. Tuy nhiên, Quy chế không
phải là một văn bản quy phạm pháp luật. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
của Quy chế hẹp hơn nhiều so với Dự thảo. Ngay khi ban hành, Quy chế đã không
phù hợp với Thông tư của Bộ Văn hóa-Thông tin số 27/2001/TT-BVHTT dẫn ở trên.
Quy định của Dự thảo không
tương thích với quy định của điều ước quốc tế
Độc quyền cho phép sử
dụng tác phẩm của tác giả được quy định tại các Điều 8, 9, 11, 11bis, 11ter,
12, 14 Công ước Berne.
Việc bảo hộ các quyền quy định tại Công ước Berne là yêu
cầu tối
thiểu mà các nước thành viên Công ước phải dành cho tác giả của tác
phẩm có xuất xứ từ nước thành viên khác, kể cả trong trường hợp phạm vi quyền
mà pháp luật dành cho tác giả trong nước hẹp hơn.
Theo quy định tại đoạn 1 Điều 9 Hiệp định TRIPS (thuộc WTO), các Điều 1-21 Công ước Berne (trừ Điều
6bis) có hiệu lực áp dụng đối với mọi thành viên Hiệp định TRIPS, bất kể có là
thành viên của Công ước Berne hay không.
Mặc dù quyền của chủ thể từ các thành viên của điều ước
quốc tế vẫn có thể được đảm bảo thông qua nguyên tắc áp dụng điều ước quốc tế
(Điều 5 Luật Sở hữu trí tuệ) nhưng đó là việc phức tạp, khó khăn.
Như vậy, quy định của Dự thảo không phù hợp với nguyên tắc “Không làm cản trở việc
thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”
tại Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Kết luận
Để phù hợp với quy định
của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định liên quan đến độc quyền
cho phép sử dụng quyền tác giả của Dự thảo cần được chỉnh sửa theo hướng thống
nhất với quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và điều ước quốc
tế.