Back To Top

NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG

Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động cấp phép của VCPMC

Cập nhật : 11/09/2017


I- CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

1- NGUYÊN TẮC 1: Được sự ủy quyền của tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả.

-   Trung tâm thực hiện các công việc, nhiệm vụ trên cơ sở được sự ủy quyền của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự, Điều 56 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT), khoản 1 Điều 41 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 85/2011/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 100/2006/NĐ-CP).

Đối với tác giả Việt Nam: căn cứ các hợp đồng ủy quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Đối với tác giả nước ngoài: căn cứ các thỏa thuận ủy quyền song phương với các tổ chức bản quyền ở các nước (CMOs) cũng như thực hiện đúng các cam kết từ khi gia nhập tổ chức CISAC.

-   Hợp đồng ủy quyền của tác giả được xác lập trên nguyên tắc tự nguyện. Phạm vi ủy quyền được quy định rõ trong hợp đồng ủy quyền. Thông qua đó, Trung tâm thực hiện việc quản lý quyền, đàm phán, cấp phép, thu và phân chia tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác từ việc cho phép khai thác, sử dụng các quyền được ủy quyền; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên; tổ chức hòa giải khi có tranh chấp.

-   Mức hành chính phí mà Trung tâm giữ lại để chi phí cho hoạt động được dựa trên cơ sở thỏa thuận với các tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả, được xác định bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số tiền thu được theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 41 Nghị định 100/2006/NĐ-CP.

Căn cứ Quyết định thành lập và Điều lệ hoạt động, Trung tâm là tổ chức phi lợi nhuận, do đó số tiền hành chính phí giữ lại được Trung tâm sử dụng, cân đối nhằm trang trải các chi phí hoạt động như: trả lương người lao động, thuê văn phòng làm việc, tiền điện - nước, mua sắm trang thiết bị, máy móc văn phòng, văn phòng phẩm, chi phí công tác, tổ chức tập huấn, tổ chức hội nghị tuyên truyền về pháp luật (ở các tỉnh/thành phố, quận/ huyện/thành phố/thị xã, xã/phường/thị trấn), chi phí tuyển dụng, đào tạo nhân sự, chi phí chăm sóc, thăm hỏi hội viên, Thăm viếng gia đình nhạc sĩ neo đơn có hoàn cảnh khó khăn, tạm ứng tiền bản quyền kịp thời cho các nhạc sĩ bị bệnh hiểm nghèo cần để phẫu thuật gấp trong tình trạng nguy kịch, hỗ trợ các Hội âm nhạc một phần kinh phí để hoạt động, chi phí vận hành phần mềm tương tác quốc tế, chi phí đào tạo, tập huấn...

Trên thực tế, mức hành chính phí chưa đáp ứng được yêu cầu và quy mô hoạt động của Trung tâm. Trung tâm đã gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, Trung tâm vẫn cố gắng cân đối, tìm giải pháp khắc phục để tiếp tục phát triển, hoàn thiện trong hoạt động, đặc biệt là để bảo đảm tốt nhất lợi ích của các tác giả đã uỷ quyền.

2- NGUYÊN TẮC 2: Có hợp đồng, danh sách tác phẩm và chứng từ đầy đủ, đúng quy định khi cấp phép và thu tiền quyền tác giả.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 45a Nghị định 100/2006/NĐ-CP: “Việc sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan và trả nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất phải có hợp đồng bằng văn bản theo quy định pháp luật”, Trung tâm thực hiện việc cấp phép và thu tiền quyền tác giả được thông qua hợp đồng sử dụng quyền tác giả, đối tượng là các tổ chức/cá nhân có nhu cầu sử dụng tác phẩm âm nhạc ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (trừ một số lĩnh vực pháp luật có quy định).

Nội dung hợp đồng được xác lập theo quy định tại Điều 47, Điều 48 Luật SHTT. Ký kết hợp đồng và thu tiền sử dụng quyền tác giả chính là việc cho phép sử dụng tác phẩm có điều kiện khi Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định việc cho phép người khác sử dụng tác phẩm là độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Khi tiến hành cấp phép và thu tiền, Trung tâm thực hiện ký kết hợp đồng, đối soát danh sách tác phẩm, cung cấp chứng từ đầy đủ cho đơn vị sử dụng (hoá đơn giá trị gia tăng, phiếu thu) đúng quy định.

 

3- NGUYÊN TẮC 3: Dựa trên sự thoả thuận, tự nguyện, hài hoà lợi ích các bên.

-   Trung tâm tôn trọng và thực hiện nguyên tắc thoả thuận nhằm đảm bảo hài hoà 3 lợi ích theo đúng quy định: “Việc trả nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất phải bảo đảm lợi ích của người sáng tạo, nhà sử dụng và công chúng hưởng thụ, phù hợp với thực tiễn của đất nước” (điểm a khoản 1 Điều 45a Nghị định 100/2006/NĐ-CP).

-   Trong mối quan hệ thỏa thuận dân sự đối với việc sử dụng quyền tác giả, Trung tâm phân biệt rõ vai trò cũng như quyền, nghĩa vụ các bên:

+ Người sáng tạo: Là tác giả, chủ thể quyền tác giả. Chủ thể này được độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

+ Người sử dụng: là tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tác phẩm ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh doanh. Các chủ cơ sở kinh doanh là người có nghĩa vụ thực hiện việc xin phép sử dụng.

+ Người thụ hưởng: là công chúng, là khách hàng sử dụng dịch vụ của các cơ sở kinh doanh.

 

4- NGUYÊN TẮC 4: Xây dựng biểu mức nhuận bút làm cơ sở để thỏa thuận

-   Thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc chính là việc cho phép sử dụng tác phẩm có điều kiện theo quy định của Luật SHTT. Điểm b khoản 1 Điều 45a Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 85/2011/NĐ-CP quy định: “Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất căn cứ vào thể loại, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất sử dụng tác phẩm”.

-   Từ năm 2006, Trung tâm thực hiện xây dựng Mức nhuận bút sử dụng tác phẩm âm nhạc (bắt đầu ban hành từ năm 2007) nhằm đưa ra cách thu, mức thu phù hợp với từng hình thức sử dụng âm nhạc và thực tế sử dụng, đặc điểm của loại hình kinh doanh có sử dụng âm nhạc, dựa trên các căn cứ sau:

+ Nghị định số 61/2002/NĐ-CP ngày 11/6/2002 về chế độ nhuận bút.

+ Thông tư số 21/2003/TTLT-BVHTT-BTC của Bộ Văn hóa Thông tin - Bộ Tài chính ngày 01/07/2003 hướng dẫn việc chi trả chế độ nhuận bút, trích lập và sử dụng quỹ nhuận bút.

+ Các mức thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc trên thế giới do Liên minh quốc tế các Hiệp hội tác giả và nhạc sĩ (CISAC) cung cấp.

+ Điều kiện thực tế tại Việt Nam.

+ Ý kiến của các nhạc sĩ, các tác giả

+ Ý kiến chấp thuận của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tại văn bản số 4737/BVHTT-BQTG ngày 16/11/2006.

+ Ý kiến của Bộ Tài chính tại công văn số 1714/BTC-CST ngày 31/01/2007 trả lời về việc tiền sử dụng tác phẩm không phải là phí và lệ phí nên Bộ Tài chính không quy định.

Biểu mức nhuận bút là cơ sở ban đầu để các bên thoả thuận trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, đúng pháp luật. Mức thu hầu như không thay đổi, không tăng trong hơn 10 năm qua. Thực tế, Trung tâm thường hết sức linh động trong việc tính toán công suất hoạt động thực tế để hỗ trợ cho người sử dụng.

 

5- NGUYÊN TẮC 5: Thỏa thuận nhằm tạo điều kiện thuận lợi đối với người sử dụng, đảm bảo tính hợp pháp khi sử dụng, tránh rủi ro pháp lý.

-   Theo quy định, tác giả là người có quyền định đoạt đối với tác phẩm âm nhạc do họ sáng tạo ra hoặc sở hữu, người sử dụng phải có nghĩa vụ xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả đã được ủy quyền.

-   Thỏa thuận là nguyên tắc xuyên suốt, chủ sở hữu đề ra mức nhuận bút làm căn cứ, người sử dụng thỏa thuận để đưa ra mức chấp nhận được, đúng khả năng thực tế. Khi nào thỏa thuận đạt, người sử dụng mới có quyền sử dụng tác phẩm. Việc một số người sử dụng quyền tài sản của người khác khi chưa được phép rồi viện lý do không thỏa thuận được để ngang nhiên sử dụng là không thấu tình, đạt lý, vi phạm các quy định của pháp luật về quyền tác giả.

Thực tế, với nhu cầu sử dụng âm nhạc hết sức phong phú, rộng khắp ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội, đa dạng về hình thức và thể loại, bao gồm cả tác phẩm âm nhạc trong nước và tác phẩm âm nhạc quốc tế, việc người sử dụng tự tìm kiếm, liên hệ tác giả là điều rất khó thực hiện. Do đó, từ rất lâu ở nhiều nước trên thế giới, mô hình tổ chức quản lý tập thể quyền đã ra đời nhằm giải quyết những vấn đề trên, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng cả về cách thức thực hiện cũng như áp dụng một mức thu thống nhất, phù hợp điều kiện đời sống và tình hình kinh doanh.

Cũng như nhiều tổ chức khác ở các nước, Trung tâm đã thiết lập một quy trình tương đối thuận lợi cho người sử dụng và phù hợp quy chuẩn chung của quốc tế. Đến nay, hầu hết các tác giả trong nước đã tin tưởng ủy quyền cho Trung tâm và thống nhất áp dụng biểu mức nhuận bút; đồng thời, thông qua đàm phán song phương với các nước, mức thu tiền sử dụng quyền tác giả đối với các tác phẩm nước ngoài (Anh, Pháp, Mỹ, Hàn, Nhật, Trung Quốc…) cũng được thống nhất bằng với mức giá của tác phẩm âm nhạc Việt Nam. Đây là một ưu thế hết sức thuận lợi mà Trung tâm khẳng định là đã tạo điều kiện hết mức cho các đơn vị sử dụng, phù hợp với tình hình kinh tế của đất nước, đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 45a Nghị định 100/2006/NĐ-CP.

 

  • Dư luận vừa qua có nêu vấn đề: Trung tâm cần phải chứng minh tác giả ủy quyền mới được thu, hay người kinh doanh có quyền từ chối đóng tác quyền…, trong khi đó lại quên mất rằng nghĩa vụ của mỗi đối tượng trong quan hệ quyền tác giả đều được pháp luật quy định rõ:

Trung tâm (là tổ chức đại diện tập thể quyền) thực hiện các công việc có sự ủy quyền và trong phạm vi ủy quyền của tác giả. Đối với các tác giả đã thông báo độc quyền hoặc không ủy quyền, Trung tâm không thu và khuyến cáo các đơn vị tự liên hệ tác giả để thỏa thuận, xin phép mới sử dụng. Việc chứng minh tác giả ủy quyền được Trung tâm thực hiện khi các đơn vị sử dụng kê khai danh sách có nhu cầu sử dụng, đồng thời Trung tâm hỗ trợ đối soát, kiểm tra thông tin tác giả - tác phẩm.

Người sử dụng có nghĩa vụ “phải xin phép và trả tiền” quyền tác giả để được sử dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật SHTT. Thực tế trong quá trình làm việc của Trung tâm suốt thời gian qua, người sử dụng tiến hành kê khai danh sách các tác phẩm mà họ có nhu cầu sử dụng, Trung tâm tiến hành kiểm tra, đối soát trong hệ thống dữ liệu của Trung tâm và quốc tế  nhằm mục đích loại trừ để không thu những tác phẩm không thuộc thành viên, những tác phẩm không ủy quyền hoặc không thuộc phạm vi ủy quyền, kiểm tra chính xác tên tác giả - tác phẩm để người sử dụng có thông tin đúng và đủ, đảm bảo quyền nhân thân của tác giả.

Trường hợp người sử dụng vẫn muốn sử dụng tác phẩm ngoài phạm vi bảo hộ của Trung tâm, người sử dụng có thể tự liên hệ tác giả để thực hiện nghĩa vụ xin phép, trả tiền theo quy định.

Trường hợp các tổ chức/cá nhân vẫn sử dụng mà không xin phép và thỏa thuận với các tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả (theo quy định tại khoản 8 Điều 28 của Luật SHTT), các cơ quan chức năng có quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả theo Nghị định số 131/2013/NĐ-CP.

Người sử dụng cần hiểu đúng quy định về quyền và nghĩa vụ đã được pháp luật quy định, xác định rõ phải thoả thuận đạt thì mới sử dụng, tránh tình trạng như vừa qua, một số cá nhân đã nhân cơ hội để lôi kéo, gây bức xúc trong dư luận, biểu hiện sự thiếu ý thức và thiếu sự tôn trọng tối thiểu đối với quyền và lợi ích hợp pháp của các tác giả. Giả sử ai cũng viện những lý do như: không thoả thuận được, hay quy định này vô lý, hay Trung tâm phải chứng minh uỷ quyền… để mặc nhiên sử dụng mà không cần trả tiền, để tiếp tục “xài chùa” một cách công nhiên, chẳng lẽ pháp luật lại cho phép?

Quan điểm của Trung tâm là tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các tổ chức/cá nhân sử dụng tác phẩm đúng quy định của pháp luật, đàm phán mức thu hài hoà, phù hợp thực tế để các doanh nghiệp chấp nhận được, lợi ích của doanh nghiệp cũng song hành với lợi ích tác giả.

 

6- NGUYÊN TẮC 6: Thực hiện thu, chi theo nguyên tắc công khai, minh bạch

a- Chế độ báo cáo:

Căn cứ khoản 4 Điều 41 Nghị định 100/2006/NĐ-CP: “Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện chế độ báo cáo 6 tháng, một năm hoặc đột xuất theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 56 của Luật Sở hữu trí tuệ”;

Hàng năm Trung tâm thực hiện chế độ báo cáo hoạt động với cơ quan chủ quản là Hội Nhạc sĩ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Bản quyền tác giả, Liên minh quốc tế các Hiệp hội nhà soạn Nhạc và Lời (CISAC), các tổ chức quốc tế tương ứng có hợp tác song phương.

b- Chế độ kiểm toán:

Từ khi thành lập vào năm 2002, công tác tài chính của Trung tâm luôn được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán độc lập. Báo cáo kiểm toán được gửi đến CISAC, tất cả các tổ chức quốc tế tương ứng có hợp tác song phương với VCPMC, các cơ quan nhà nước khi có yêu cầu.

c- Việc thu, chi đều có hóa đơn, chứng từ theo quy định:

-   Số tiền thu, phương thức thanh toán được thể hiện rõ trên hợp đồng, có đầy đủ phiếu thu, hóa đơn GTGT.

-   Số tiền chi trả cho tác giả: có đầy đủ phiếu chi và bảng kê chi tiết các tác phẩm do các đơn vị sử dụng kê khai; khi nhận tiền các tác giả ký nhận đầy đủ, hoàn toàn minh bạch.

-   Từ năm 2002 đến 2016, hoạt động thu và chi trả tiền quyền tác giả của Trung tâm đều được báo cáo đầy đủ, chi tiết tại Báo cáo kiểm toán hàng năm.

 

II- HOẠT ĐỘNG CẤP PHÉP VÀ THU TIỀN SỬ DỤNG QUYỀN TÁC GIẢ

Đây là hoạt động mà Trung tâm hết sức chú trọng, phản ánh rõ nét nhất kết quả của công tác bảo vệ quyền tác giả. Số tiền quyền tác giả thu được càng cao, quyền và lợi ích của tác giả càng được đảm bảo.

Hiện nay, Trung tâm đã triển khai 19 lĩnh vực thu tiền quyền tác giả, thể hiện rõ tại Mức nhuận bút do Trung tâm ký ban hành (bản mới nhất vào năm 2015).

1- Các căn cứ để tính tiền sử dụng quyền tác giả:

  • Biểu mức nhuận bút (là cơ sở ban đầu để thoả thuận);
  • Loại hình dịch vụ, lĩnh vực kinh doanh;
  • Hình thức sử dụng âm nhạc (nhạc sống – nhạc nền);
  • Quy mô/sức chứa/số phòng/số ghế/diện tích/số buổi diễn, số bài hát…;
  • Công suất hoạt động bình quân/năm (do cơ sở kinh doanh kê khai);
  • Tình hình hoạt động thực tế tại cơ sở kinh doanh.

2- Các quyền cấp phép:

Trung tâm áp dụng quy định của Luật SHTT để làm căn cứ và quy định rõ phạm vi quyền tại các hợp đồng cấp phép, cơ bản và phổ biến nhất gồm các quyền sau:

-      Quyền sao chép tác phẩm (điểm c khoản 1 Điều 20 Luật SHTT, khoản 2 Điều 23 Nghị định 100/2006/NĐ-CP);

-      Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng (điểm đ khoản 1 Điều 20 Luật SHTT, khoản 4 Điều 23 Nghị định 100/2006/NĐ-CP);

-      Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng (điểm b khoản 1 Điều 20 Luật SHTT, khoản 1 Điều 23 Nghị định 100/2006/NĐ-CP).

3- Quy trình cấp phép:

-   Bộ phận Cấp phép của Trung tâm thực hiện theo quy trình cơ bản như sau:

+ Khảo sát địa bàn, khu vực, cơ sở kinh doanh;

+ Gửi công văn đề nghị làm việc đến các cơ sở kinh doanh;

+ Hướng dẫn cơ sở kê khai hình thức sử dụng âm nhạc, quy mô, sức chứa; hướng dẫn tìm hiểu các quy định của pháp luật về quyền tác giả;

+ Thảo luận, đàm phán, ký kết hợp đồng, thu tiền.

+ Trường hợp một số cơ sở kinh doanh có biểu hiện né tránh, đối phó, Trung tâm áp dụng biện pháp bảo vệ quyền theo Điều 198 Luật SHTT: cảnh báo, phản ánh vi phạm, đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 131/2013/NĐ-CP; gửi văn bản khiếu nại, tố cáo hành vi xâm phạm đến cơ quan chức năng; khởi kiện tại Toà án.

 

III- PHÂN PHỐI, CHI TRẢ:

-   Trung tâm thực hiện công tác phân phối, chi trả cho các tác giả trong nước và tác giả quốc tế theo 4 kỳ/năm (vào mỗi quý) theo nhiều hình thức: chi trả trực tiếp tại văn phòng Hà Nội và Chi nhánh phía Nam, chuyển khoản, chuyển tiền qua bưu điện, hoặc cử nhân viên chi trả tận nhà đối với một số trường hợp tác giả đã lớn tuổi không thể đi lại, tác giả khuyết tật…

-   Số tiền sử dụng tác phẩm thu về, sau khi xem xét điều kiện đủ để phân phối (thời hạn hợp đồng, số tiền thanh toán, danh sách tác phẩm…) và trừ đi tỷ lệ hành chính phí theo quy định sẽ được xử lý qua phần mềm phân phối MIS@Asia để tiến hành phân phối, chi trả đến các tác giả. Trung tâm luôn tìm mọi phương án và áp dụng kỹ thuật tin học, xử lý phần mềm tối ưu để việc phân phối, chi trả đạt kết quả tốt nhất, coi nhiệm vụ chi trả cũng quan trọng như bảo vệ và khai thác.

-   Khi tác giả nhận tiền sử dụng tác phẩm sẽ được ký nhận vào 01 bản tổng hợp tiền sử dụng tác phẩm và 01 bản chi tiết trong đó thể hiện rõ số tiền bao nhiêu do đơn vị nào trả. Chứng từ chi trả tác giả sẽ được giữ 01 bản.

-   Số tiền còn lại chưa đủ điều kiện phân phối như: Hợp đồng chưa hết hạn còn chờ đơn vị bổ sung danh mục, hợp đồng đã xuất hóa đơn nhưng đơn vị chưa thanh toán tiền hoặc thanh toán chưa đầy đủ, hợp đồng đã thu đủ tiền nhưng đơn vị chưa kê khai danh sách bài hát sử dụng, tác giả tiền ít chờ nhiều nhận một lần, tác giả đang tranh chấp quyền thừa kế… sẽ tiếp tục được Trung tâm rà soát và phân phối vào các quý tiếp theo./.

 

 

 

 

BGĐ
VCPMC

Lên đầu trang Về trang trước Gửi email In trang

Ý kiến bạn đọc (0)

Gửi bình luận của bạn

LƯU Ý: VCPMC sẽ biên tập ý kiến của bạn đọc trước khi xuất bản, chúng tôi hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và có quyền không sử dụng những ý kiến cực đoan không phù hợp.
Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo không được đăng.
Cám ơn sự đóng góp và hợp tác của bạn đọc.

Kết nối với VCPMC